TƯ VẤN SỨC KHỎE1900.8909

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Sức khỏe của bé qua phân!

Khi cơ thể trẻ có bất thường nhất ở đường tiêu hóa, thì phân là một trong những biểu hiện đầu tiên tin cậy. Theo giõi phân hàng ngày sẽ kịp thời đoán biết tình trạng sức khỏe của trẻ để xử trí kịp thời.

Phân khi nào là bình thường? 

Với trẻ bú mẹ, phân "hoa cà hoa cải" không thối có thể có mùi chua nhẹ. Với trẻ lớn hơn phân trẻ thường mềm mịn và khá đồng nhất, thường có màu vàng sẫm hoặc nhạt, mùi không quá thối hoặc không thối khắm.

Phân không bình thường?
- Phân có chất nhầy trắng hoặc xanh, đây là dấy hiệu báo trẻ có rối loạn tiêu hóa hoặc trẻ bị sổ mũi, viêmMũi họng. Nếu đường hô hấp trẻ vẫn bình thường, cần đưa trẻ đến bác sĩ vì có thể trẻ bị rối loạn màng nhầy ở ruột.

- Phân có mủ có thể kèm theo mùi thói khắm. Trẻ bị viêm ở đường ruột hoặc ở bộ phận nào đó ở cơ quan tiêu hóa. Nếu khi đại tiện trẻ quấy khóc, đau bụng buồn nôn, đại tiện nhiều lần, phát sốt là trẻ bị kiết lị.

- Phân có máu. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi thấy phân của trẻ có máu hoặc nghi nghờ có máu, bạn cần đưa trẻ đi khám ngay.

- Phân có màu xanh. Nếu phân có màu xanh cỏ úa, lỏng, hoặc phân không thành hình màu vàng nhạt hoặc màu vàng sẫm có chút thức ăn chưa tiêu hóa, mùi hôi thối là do trẻ ăn quá nhiều, phải giảm lượng ăn đi. Khi phân có màu xanh sẩm, lượng ít có dính nhầy, khi bú hoặc sau khi bú trẻ bị quấy khóc quằn quại thì đó là trẻ bị đói ăn. Cần tăng lượng sữa thích đáng thì sẽ trở lại bình thường.

- Phân có màu xám thường gặp ở những trẻ được nuôi bằng sữa bò. Cha mẹ nên theo dõi sự biến chuyển của phân. Nếu ngày càng xám và rắn lại, bạn có thể hỏi ý kiến bác sĩ vì có thể sữa đang không dùng hợp với trẻ.

Phân sống, thường lỗn nhộn sữa hoặc thức ăn chưa tiêu hóa, có pha chút màu trắng nhạt hoặc màu trắng. Khi phân có bọt lại có ít phân sống đó là hiện tượng ăn quá nhiều chất đường, chất bột, nên giảm lượng đường và chất bột, cho ăn cháo ngó sen hoặc cháo nước gạo, chỉ 1-2 ngày sẽ khỏi.

- Phân màu nâu nhạt, vón hạt thường do trẻ uống quá ít nước hoặc trời nóng, hoặc trong chế độ ăn ít tinh bột và chất xơ.

- Phân có dạng như  hồ loãng màu vàng nhạt, không có chất nhầy, ngày đi 3-4 lần, nguyên nhân có thể do trẻ ngủ để bụng bị lạnh. Cải thiện bằng cách, đắp ấm bụng giảm thức ăn dầu mỡ, rang gạo vàng lên nấu nước uống hoặc dùng pha vào sữa cho trẻ ăn một vài ngày là khỏi. Phân có màu sắc theo thức ăn mà trẻ ăn vào, ví dụ khi trẻ ăn nhiều cà rốt hoặc rau quả có màu vàng, phân thường có biểu hiện vàng sẫm.

- Phân nửa thành hình, nữa như nước. Thì đó là trẻ bị bệnh cảm cúm, lên sởi... Nếu phân lỏng như nước, ngày đại tiện trên 10 lần đó là ngộ độc.

- Phân cứng, lượng it, mặt ngoài có nhầy hoặc màu là táo bón. Nếu trẻ bị táo bón nặng có thể cho uống 60-70ml mật ong (chỉ với 1 tuổi trở lên) hoặc 5-10ml vừng dầu, dầu lạc đã nấu chín là được.

- Phân như  nước vo gạo, số lần đại tiện và số phân nhiều lại kèm theo nôn mủa đó là bị bệnh tả.

- Phân như bả đậu hoặc phân loảng có màu vàng xanh lẫn chất nhầy là bị viêm nhiễm cầu trùng xâu chuỗi màu trắng ở đường ruột hoặc bị viêm ruột do nấm. Lưu ý, bạn có thể theo dõi phân đựng trong lọ thủy tinh đã rửa sạch và đậy kín, bác sĩ có thể làm xét nghiệm nếu có thể cần thiết.

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khoẻ trẻ em. Nếu có thắc mắc chung về sức khoẻ, tâm lý hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn từ các bác sĩ.

Tags: tam ly phu nu, tam ly phu nu ngoai tinh,

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Dấu hiệu khò khè ở trẻ nhỏ?

Khò khè là tiếng thở bất thường xảy ra khi trẻ bị tắc nghẽn đường hô hấp dưới (từ đoạn khí quản ngực đến các phế quản nhỏ). Cha mẹ cần chú ý nhận biết và theo dõi diễn biến của trẻ để đưa trẻ đến cơ sở y tế khám để xác định nguyên nhân và điều trị phù hợp.


Các nguyên nhân gây khò khè thường gặp nhất là: suyễn (hen phế quản), viêm tiểu phế quản, viêm phổi. Trong đó, ở trẻ dưới 6 tháng, nguyên nhân thường gặp nhất là viêm tiểu phế quản. Còn ở trẻ trên 18 tháng tuổi, nguyên nhân thường gặp nhất là suyễn. Đặc biệt, khò khè hay gặp ở trẻ dưới 2-3 tuổi vì ở lứa tuổi này, phế quản (cuống phổi) có kích thước còn nhỏ lại dễ bị co thắt, phù nề, tiết dịch và nghẽn tắc khi bị viêm nhiễm (30 - 40% trẻ còn bú có triệu chứng này).

Ngoài ra còn các nguyên nhân hiếm gặp là: dị vật đường thở, một số dị tật bẩm sinh của phế quản, phế quản bị chèn ép (do mạch máu bất thường, u, hạch cạnh phế quản), …  Trong trường hợp này, trẻ có triệu chứng khò khè dai dẳng, kéo dài.

Nhận biết trẻ bị khò khè?

Khò khè là tiếng thở bất thường có âm sắc trầm nghe rõ nhất khi trẻ thở ra  có thể nghe bằng cách áp sát tai gần miệng trẻ (nghe gần giống như tiếng ngáy,“tiếng nhạc“). Khi nặng hơn, có thể thấy trẻ thở ra kéo dài, gắng sức. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khó có thể nghe được bằng tai. Khi đó, bác sĩ có thể phát hiện dễ dàng triệu chứng này hơn bằng cách dùng ống nghe (trong chuyên môn gọi là tiếng ran ngáy, ran rít ).

Trên thực tế, ở trẻ sơ sinh cần phân biệt tiếng khò khè (là triệu chứng ít gặp nhưng là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này) với tiếng thở do tắc mũi (là triệu chứng rất thường gặp và không phải là triệu chứng nặng). Trẻ sơ sinh thở chủ yếu bằng mũi, trong khi kích thước lỗ mũi trẻ còn nhỏ và rất dễ bị tắc khi bị cảm ho (làm trẻ thở nghe khụt khịt). Khi đó, có thể làm thông thoáng mũi trẻ với 2-3 giọt nước muối sinh lý nhỏ mũi, sau đó nghe lại. Trẻ bị nghẹt mũi sẽ thở êm hơn sau khi được làm thông thoáng mũi.

Khi nào cần đi khám?

- Trẻ thở khò khè lần đầu tiên; khò khè kèm khó thở, tím tái, rối loạn tri giác (vật vã - bứt rứt, hay li bì ); khò khè tái phát.

- Nếu trẻ dưới 3 tháng tuổi bị khò khè, cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì đây là triệu chứng bệnh nặng ở lứa tuổi này.

- Khi trẻ bị khò khè kéo dài, dai dẳng (3- 4 tuần ), cần cho trẻ đến khám bệnh viện chuyên khoa vì nhiều trường hợp cần phải làm nhiều xét nghiệm chuyên sâu để xác định chẩn đoán (chụp X quang, siêu âm, đo hô hấp ký, chụp CT ngực, nội soi đường hô hấp, … )

- Không nên tự ý dùng thuốc, kể cả các loại thuốc kháng sinh, long đờm, kháng viêm,… vì  có thể sẽ không đạt hiệu quả tốt mà có khi còn làm trẻ khò khè nhiều hơn, dẫn đến bệnh nặng hơn.

Chú ý: Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài tư vấn 19008908 hoặc 19008909 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Tags: tam ly phu nu, tam ly phu nu ngoai tinh,

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Cách tắm nắng cho trẻ

Tắm nắng rất tốt cho hầu hết mọi người và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Tắm nắng không chỉ tốt trong việc phát triển xương cho trẻ mà còn giúp trẻ sơ sinh tránh tình trạng vàng da. Thế nhưng, không phải bà mẹ nào cũng biết tắm nắng đúng cách cho trẻ.

1. Trẻ có thể tắm nắng khi nào?

Bạn biết không, sau khi sinh khoảng 1 tuần là bạn có thể bắt đầu cho trẻ tắm nắng ngay. Mùa hè, bạn nên cho con tắm nắng vào khoảng từ 8 – 9h sáng. Lúc này, lớp khí quyển mỏng hơn, lượng hơi nước bốc lên giảm nên tia tử ngoại từ ánh sáng mặt trời nhiều.

Nếu không ra ngoài, có thể cho bé tắm nắng buổi sớm bên cửa sổ nhưng cần mở cửa kính để tránh cản tia tử ngoại. Vào mùa lạnh, có thể tắm nắng cho bé từ 9 – 10h sáng nhưng tốt nhất là khoảng từ 15 – 17h chiều vì buổi sáng lạnh, trẻ dễ mắc bệnh về đường hô hấp.

2. Tắm nắng đúng cách cho trẻ

Giai đoạn giúp trẻ làm quen : Sau sinh 10 ngày, có thể cho trẻ ra bóng râm. Ngày đầu 10 phút rồi tăng dần lên 20, 30 phút cho các ngày tiếp theo. Nếu mùa đông, bạn có thể bỏ qua gia đoạn này.

Giai đoạn tắm : Bắt đầu từ ngày thứ 4 (tính từ sau sinh 10 ngày), cho trẻ mặc quần áo để lộ bàn chân và cổ chân, tắm nắng thân trước và sau lưng 5 phút. Ngày thứ 5, che từ đầu gối lên đầu để lộ bắp và bàn chân, tắm nắng cho bé 15 phút. Các ngày tiếp sau, cho lộ thêm nhiều vùng da như đùi, ngực, tay, cổ… để tắm nắng. Phần da tiếp xúc với ánh nắng càng nhiều, cơ thể bé càng nhận được nhiều vitamin D.

Cách cho trẻ tắm nắng : Thoạt đầu, mỗi lần tắm 2 phút, rồi tăng dần lên khoảng 10-15 phút dưới ánh nắng nhẹ, không cho trẻ tắm nắng quá 30 phút. Mỗi đợt tắm 15 ngày. Sau đó cho trẻ nghỉ 10-20 ngày rồi có thể cho trẻ tắm tiếp.

3. Lưu ý khi tắm nắng cho trẻ

Để việc tắm nắng cho trẻ đạt hiệu quả, các mẹ cần lưu ý những vấn đề sau:

Không để ánh nắng chiếu thẳng vào đầu, mặt và mắt để tránh tia cực tím có hại cho mắt và não ở trẻ.

Khi trẻ đang bị các bệnh cấp tính, bệnh nội tiết như basedow, eczema, hecpet, phải dùng kháng sinh nhóm Quinolon, nhất thiết không được tắm nắng.

Trẻ chưa biết đi, người lớn có thể bế trẻ ra ngoài, hoặc đặt trẻ vào xe đẩy có mui che, đẩy ra ngoài cửa để tắm nắng.

Chú ý: không tắm nắng trong phòng qua cửa kính, vì kính cản trở tia hồng ngoại nên qua kính cơ thể không hấp thu được tia hồng ngoại thì việc tắm nắng cũng không có tác dụng.

Sau khi tắm, phải kịp thời lau khô mồ hôi và cho bé uống một chút nước bổ sung. Tiếp đến, cho bé nghỉ chừng 20 – 30 phút rồi tắm nước ấm cho bé. Nếu là mùa hè thì nên tắm cho trẻ sau khi tắm nắng xong.

Nên mặc ít áo cho trẻ, để hở vùng da nhiều càng tốt.

Mùa đông vẫn có thể tắm nắng cho trẻ nếu trời có nắng. Tuy nhiên, nên tránh những ngày thời tiết bất thường hoặc vào thời điểm giao mùa.

Chọn nơi thoáng đãng, ít bụi bẩn, tiếng ồn, nhận được nhiều ánh nắng để tắm cho bé. Tuyệt đối tránh chỗ gió lùa, chỉ nên mở một cánh cửa hướng có nắng.

Nguồn Tổng hợp

Chú ý: Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài tư vấn 19008908 hoặc 19008909 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv, tam nang cho tre so sinh

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net


Bệnh viêm xoang ở trẻ em?

Viêm xoang có thể gặp ở trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh nhưng rất hiếm, khoảng 0,1% trong tổng số các bệnh nhân bị viêm xoang. Viêm xoang ở trẻ sơ sinh chủ yếu là viêm hệ thống xoang sàn.

Viêm xoang ở trẻ em khác gì với người lớn?

Viêm xoang trẻ em khác với người lớn, đây không phải là người lớn thu nhỏ mà ở lứa tuổi này hệ thống xoang đang trong giai đoạn hình thành và phát triển. Hệ thống xoang mặt bắt đầu được hình thành từ tuần thứ tư của thời kỳ bào thai, xuất phát từ một tế bào sàng. Tế bào sàng phát triển xâm lấn vào các xương để tạo thành các xoang khác nhau như xâm lấn vào xương trán tạo xoang trán, xâm lấn xương hàm trên tạo xoang hàm và xâm lấn vào xương bướm để hình thành xoang bướm. Chính vì vậy các xoang có liên hệ mật thiết với nhau nên thường bị viêm nhiều xoang cùng một lúc. Xoang sàng có ngay từ khi trẻ ra đời nhưng những các xoang khác dần được tạo thành: xoang hàm có khi trẻ 3 - 4 tuổi, xoang trán và xoang bướm chỉ xuất hiện khi trẻ được 7 - 8 tuổi. Hệ thống xoang chỉ hoàn thiện ở người 20 tuổi.

Kích thước các xoang của trẻ rất nhỏ, đôi khi mới chỉ là một rãnh hằn vào xương làm cho việc chẩn đoán bệnh gặp nhiều khó khăn vì các triệu chứng thường không điển hình và khó khai thác được chính xác.

Viêm xoang và viêm đường hô hấp trên



Làm thế nào để phân biệt trẻ bị viêm xoang với một đợt viêm đường hô hấp trên cấp tính vì trong một năm trẻ có thể mắc từ 6 - 8 lần? Chẩn đoán viêm mũi xoang ở trẻ nhỏ chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng. Diễn biến và biểu hiện bệnh như sau:

Sau một đợt viêm mũi họng cấp kéo dài trên 1 tuần (viêm nhiễm đường hô hấp trên chỉ kéo dài trung bình 5 – 7 ngày là hết), trẻ vẫn còn sốt nhẹ, người mệt mỏi, xì mũi màu vàng, xanh đặc, có mùi hôi. Trẻ thường xuyên có cảm giác chảy đờm từ mũi xuống họng nên gây ho, nhất là ban đêm khi ngủ. Hơi thở hôi và dễ nôn oẹ. Trẻ bú không được dài hơi như khi đang khoẻ do tắc mũi. Trẻ hay quấy khóc, thở ngáy, ngủ không ngon giấc, mệt mỏi kèm theo hốc mắt có quầng thâm. Trẻ lớn hơn hay phàn nàn bị đau đầu nặng mặt, dễ buồn ngủ. Đôi khi trong đợt viêm cấp mặt trước của má bị sưng nề đỏ, ấn đau hoặc có biểu hiện sưng nề, đóng bánh ở góc trong ổ mắt do hiện tượng viêm xoang sàng rò mủ ra ngoài da. Khám bệnh thấy tình trạng niêm mạc mũi bị phù nề, xuất tiết nhiều dịch, khe giữa đọng nhiều mủ vàng xanh. Một số trượng hợp viêm mũi xoang lâu ngày dẫn tới hình thành polip mũi. Tổ chức V.A ở trần vòm trong tình trạng quá phát và đọng mủ.

Quan sát họng miệng thấy mủ vàng xanh bám đầy thành sau họng xuống tận dưới hạ họng.

Màng tai thường dày đục và lõm, một số trẻ có hiện tượng ứ đọng dịch trong hòm tai-viêm tai giữa thanh dịch - do sự thông khí kém giữa tai và mũi họng.

Chụp X-quang xoang thường như phim Blondeau, Hirtz chỉ cân nhắc thực hiện khi nghi ngờ có biến chứng của viêm xoang do ảnh hưởng nặng nề của tia chụp với trẻ nhưng thật sự cũng khó đánh giá tình trạng viêm xoang của trẻ trên hai phim này vì mặt trước của xoang bị các mầm răng cản trở. Nếu thấy thật cần thiết chỉ nên chụp phim cắt lớp vùng xoang để đánh giá chính xác tình trạng của bệnh.

Điều trị như thế nào?

Điều trị nội khoa là chính từ 4 – 6 tuần với kháng sinh toàn thân nhóm ß lactam hoặc macrolid kết hợp với thuốc chống viêm, giảm phù nề, chống dị ứng.

Tại chỗ dùng các thuốc nhỏ mũi nhóm co mạch, chống viêm, giảm xuất tiết để làm thông thoáng lỗ dẫn lưu xoang.

Chỉ định phẫu thuật chỉ đặt ra khi điều trị nội khoa sau 6 tháng thất bại hoặc có những biến chứng của viêm xoang theo chỉ đinh chặt chẽ của các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

ThS. PHẠM BÍCH ĐÀO

Chú ý: Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài tư vấn 19008908 hoặc 19008909 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv, tam nang cho tre so sinh

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Khàn tiếng ở trẻ - chớ nên coi thường?

Con tôi bị sổ mũi nước trong đến hôm nay là 3 ngày và tôi có xịt rửa mũi thì thấy đỡ hơn. Tuy nhiên hai hôm nay bé lại bị khản tiếng, dù không ho, không sốt, không có biểu hiện viêm họng và bé vẫn cười đùa, la hét.
Nhiều người cho rằng khản giọng ở trẻ em không nghiêm trọng, chủ yếu do bé la hét, nói nhiều, khóc nhiều chỉ vài hôm là khỏi. Trên thực tế, khản giọng ở trẻ là một trong những biểu hiện dễ nhận thấy nhất của viêm thanh quản. Đây là một bệnh lý rất phổ biến ở trẻ em, có thể tự khỏi ở nhiều trẻ. Nhưng ở nhiều trẻ sau vài ngày khản giọng có thể diễn biến nặng thêm, gây viêm thanh quản cấp khiến bé giọng khản đặc, thậm chí tình trạng viêm phù nề còn bít tắc dây thanh quản dẫn đến việc thở rất khó khăn.


Nguyên nhân gây viêm thanh quản xảy có rất nhiều, do nói nhiều, khóc nhiều, hét to... cũng khiến dây thanh quản căng lên, có thể gây viêm thanh quản, thậm chí có thể chảy máu thanh quản. Ngoài ra, viêm thanh quản ở trẻ em còn do viêm ở đường mũi họng không được điều trị dần gây ra.

Trường hợp của con chị, bé không ho, không sốt nhưng có sổ mũi nhưng khàn tiếng (1 biểu hiện của viêm thanh quản). Vì thế, tốt nhất chị nên cho bé đến bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để khám và được bác sĩ cho lời khuyên tốt nhất, không tùy tiện cho trẻ dùng thuốc.

Thông thường, trẻ khản giọng nhiều người không lo lắng, nhưng với bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng chúng tôi thì thấy việc khản giọng ở trẻ là biểu hiện của viêm thanh quản và cần được chỉ định điều trị để phòng những nguy cơ đáng tiếc xảy ra. Vì thanh quản là nơi phát ra âm và thanh quản là nơi hẹp nhất trên đường thở. Chính vì là nơi hẹp nhất, nên khi xảy ra hiện tượng viêm, gây phù nề thanh quản sẽ khiến dây thanh quản bị bít kín. Khi đường thở bị bít kín, bệnh nhân sẽ khó thở, dần đến thiếu ô-xy cung cấp lên não.

Cần nhấn mạnh rằng, không phải trường hợp nào bé khản tiếng cũng dẫn đến tình trạng viêm cấp gây phù nề viêm thanh quản, nhưng đây là một trong những nguy cơ và tốt nhất không nên để nguy cơ đó xảy ra. Vì khi đã xảy ra, nếu không cấp cứu kịp thời để người bệnh thở được thì sẽ gây thiếu oxy não, thậm chí gây tử vong. Hơn nữa, diễn tiến bệnh ở mỗi trẻ khác nhau, có trẻ sau vài ngày khản giọng mới có hiện tượng khó thở nhưng có trẻ vừa tối trước khản giọng, hôm sau đã khò khè và có thể lơn cơn khó thở cấp. Do đó, khi bé bị khản tiếng, tốt nhất nên đưa bé đi khám chuyên khoa để được hướng dẫn cụ thể nhất.

BS Hoàng Đình Ngọc

Phó Giám đốc BV Tai mũi họng TƯ

Trên đây là một số thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em. Để biết thêm thông tin về sức khỏe, tâm lý các bạn hãy gọi điện tới tổng đài chăm sóc sức khỏe trực tuyến 19008908 hoặc 19008909 để nhận được hỗ trợ trực tiếp từ các chuyên gia.

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv, tam nang cho tre so sinh

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Dấu hiệu và cách trị viêm khớp tự phát ở trẻ

Bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em thuộc nhóm bệnh tự miễn, là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, bệnh nhân bị bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ em trước khi đến Bệnh viện Nhi đã đi khám, chữa hàng năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện bệnh dẫn tới bệnh tiến triển nặng, biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác

Các triệu chứng của viêm khớp tự phát

Sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường. Trẻ có thể bị nổi ban đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều khớp như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân...

Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, khớp háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ nóng nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi...

Điều trị viêm khớp tự phát thế nào?

Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp, tối ưu hóa các vận động khớp nhằm đạt tới chức năng khớp bình thường cho bệnh nhân. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc...

Biện pháp không dùng thuốc (vật lý tri liệu)

Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp... Tuy nhiên, trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm thuốc giảm đau thông thường, thuốc chống viêm giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản tức thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm làm giảm, khống chế quá trình viêm khớp.

Do đặc thù bệnh khởi phát ở tuổi trẻ em, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình.

BS. Trần Quang Nhật

Chú ý: Trên đây la một số thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em. Nếu có những thắc mắc chung về sức khỏe, tâm lý hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn từ các bác sĩ.

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv,

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Phòng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Viêm tiểu phế quản là bệnh hô hấp cấp tính, rất hay gặp ở trẻ còn bú. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm sẽ cho kết quả tốt, những trường hợp nặng gây suy hô hấp có thể bị tử vong. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết về bệnh để chăm sóc trẻ được tốt hơn.

Những biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản

Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 – 5 ngày, trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém.

Các tiêu chuẩn lâm sàng khác cho thấy trong khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có nhiễm toan hô hấp kèm theo, đây là những chỉ số đánh giá mức độ nặng của bệnh. Để phát hiện chính xác loại virus gây bệnh, cần phải phân lập hoặc nuôi cấy virus, bằng cách lấy dịch tiết khí phế quản hoặc trong tổ chức phổi hoặc phản ứng huyết thanh.

Cần lưu ý: Khi chẩn đoán bệnh cần phân biệt với các triệu chứng của viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, bệnh mềm sụn thanh khí quản, bệnh mạch máu, các khối u (chèn ép khí phế quản từ ngoài vào) hoặc tình trạng u mạch máu, hẹp khí quản gây tắc nghẽn đường hô hấp ở trong. Các bệnh như: trào ngược dạ dày thực quản, dị vật đường thở, khó thở thứ phát sau nhiễm virus… cũng cần được phân biệt với viêm tiểu phế quản ở trẻ em.

Vì sao trẻ bị viêm tiểu phế quản?

Tác nhân làm cho trẻ bị viêm tiểu phế quản thường là do các virus như: virus hợp bào hô hấp (VRS), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh. Virus cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virus hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao, do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virus trước đó như: viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm VA… đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh như: loạn sản phổi, mucoviscidose hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

Các biến chứng thường gặp

Tất cả các trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ nếu không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở ra tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi – trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong.

Xử trí và phòng bệnh thế nào?


Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như: ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với vật lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải bù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất, cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh.

Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải sử dụng liệu pháp oxy, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên dùng steriod cho trẻ.

Muốn phòng bệnh hiệu quả, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá. Khi đi ra đường nên giữ ấm và bảo vệ đường hô hấp trên cho trẻ, có thể sử dụng nước muối sinh lý 0,9% nhỏ vào mắt, mũi trẻ sau khi đi chơi về. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng đặc biệt lưu ý. Nếu trẻ có những biểu hiện bệnh như: sốt, ho, khó thở cần đưa ngay trẻ đến các chuyên khoa hô hấp để được điều trị đúng

Địa chỉ uy tín trong điều trị viêm tiểu phế quản ở trẻ nhỏ ở Hà Nội mà bạn đọc có thể tham khảo: Khoa Nhi - bệnh viện Phổi Trung Ương, Khoa Hô hấp - bệnh viện Nhi Trung Ương.

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về bệnh viêm tiểu phế quản, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Tags: bieu hien cua hiv, bieu hien cua benh hiv, tăng sức đề kháng cho bé

Tin liên quan:

Nguồn cachchuabenh.net

Tư vấn sức khỏe 1900 8909

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by cachchuabenh.net | Sức khỏe sinh sản | Bệnh truyền nhiễm | Sức khỏe trẻ em